Giuseppe Verdi – Bản nhạc hay nhất là tình người chuẩn mực

13/04/2021 09:18

Theo dõi trên

(Arttimes) - Giuseppe Verdi (1813-1901) nhà soạn nhạc opera vĩ đại nhất Italia đồng thời là một trong những nhà soạn nhạc có ảnh hưởng nhất mọi thời đại, ông còn được coi là Victor Hugo của đất nước Italia.

Cha ông vốn là một nông dân ở một thị trấn nhỏ, về sau mở một quán cà phê kiêm tạp phẩm. Thu nhập bấp bênh và ít ỏi. Từ bé, Giuseppe Verdi đã tỏ rõ năng khiếu âm nhạc siêu phàm. Một chức sắc địa phương đỡ đầu ông và tạo điều kiện cho ông học hành đến nơi đến chốn. Kiến thức thu được giúp ông phát lộ dần tài năng thiên bẩm.

Vừa học xong, năm 1836, ông được cử cai quản nhà nguyện của thị trấn quê nhà, nhưng hai năm sau, ông từ chức, kết hôn với con gái cha đỡ đầu. Năm 1838, ông chuyển tới Milano, trung tâm văn hóa Italia bấy giờ, đơn giản bởi chỉ ở đây, ông mới có thể tỏa sáng và tham gia hữu hiệu vào phong trào giành lại độc lập và thống nhất cho Italia. Năm 1839, vở nhạc kịch đầu tiên của ông được hoan nghênh nhiệt liệt. Vở thứ hai, năm 1840, bị chê bai thậm tệ. Thất bại là do ông lâm khủng hoảng tinh thần từ 1838 tới 1840, hai con liên tiếp chết yểu, vợ trẻ cũng lìa đời không lâu sau đó. Tuy nhiên, một kịch bản ông nhận được đã khiến ông vùng dậy. Đôi chi tiết thức tỉnh trong ông lòng yêu nước tiềm tàng. Ông lao vào viết vở nhạc kịch Nabucco, thắng lợi lớn vào năm 1842, dấu mốc quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp của nghệ sỹ nặng lòng với những lớp người thấp cổ bé họng, tức quảng đại dân thường thời ấy chưa được thừa nhận.

1-1618224594.jpg

Verdi và vợ, Giuseppina Strepponi

Từ năm 1843 - 1851, trong tám năm, ông hoàn thành 12 vở nhạc kịch. Không phải vở nào cũng tuyệt mỹ, nhưng tất cả đều cuốn hút khán giả bình dân và khán giả quý tộc. Giai đoạn tiếp theo, từ năm 1853 - 1871, ông viết chậm lại, trung bình ba hay bốn năm một vở. Vở nào cũng được đón nhận nồng nhiệt. Ấy là do nhân vật toàn diện hơn, chân thực hơn và người hơn. Sau đó, ông im lặng 16 năm trời. Trừ năm 1874, ông cho ra mắt tác phẩm thiên tài Khúc tưởng niệm, tri ân văn hào Alessandro Manzoni (1785-1873), người có công lớn trong cuộc giành lại độc lập và thống nhất cho Tổ quốc. Hiển nhiên, các tác phẩm của ông vẫn liên tục được trình diễn. Ông im lặng là do thức thời. Dạo ấy, xuất hiện một lớp tác giả mới, như hai công dân Pháp Bizet, Massenet, và một công dân Đức Wagner, với tài năng đầy triển vọng. Ông không muốn mình và sáng tác của mình bị đem ra so bì với cánh trẻ. Ở hiền gặp lành, ông bất ngờ được nhà viết kịch Arrigo Boito, sinh năm 1842, tha thiết đề nghị ông viết nhạc kịch cho hai kịch bản mà Boito sáng tác theo hai kiệt tác của Shakespeare: OtelloHenri IV (từ vở này, Boito nảy ra nhân vật bi hài đặc sắc và dùng tên nhân vật ấy làm tựa đề kịch bản của mình: Falstaff). Ông nhận lời, đắm mình vào lao động. Hai vở này, Otello, hoàn thành năm 1887 – khi Verdi 74 tuổi, và Falstaff, 1893 khi Verdi 80 tuổi - trở thành hai tác phẩm kinh điển của nhạc kịch toàn cầu. Chúng minh chứng nức lòng cho khả năng đổi mới phi thường, tức sức thanh xuân vĩnh cửu của một nghệ sỹ gắn bó sâu nặng với Tổ quốc và Nhân dân… Một trong những đổi mới đó là đi sâu vào những trăn trở thầm kín nhất của các nhân vật. Những trăn trở có thật ấy nhằm vào những gì là nhân bản, là tính người và tình người. Hôm nay, nhân vật Otello được giới chuyên môn và công chúng cảm nhận là của Verdi hơn là của Shakespeare: Với nhà viết kịch Anh đại tài, Otello là một anh hùng kiêu hãnh, không thỏa hiệp, không biết đến nghi ngờ. Với Verdi, Otello là một người dễ bị tổn thương, bị xâu xé bởi nhiều ưu tư, vì mình da đen, lại đã có tuổi, trước cô gái da trắng tôn sùng mình, ông không thể không băn khoăn, liệu tình cảm nồng nhiệt chừng ấy của cô là chân thành hay giả dối?...

Nhiều nhạc kịch của Verdi, như Nabucco, Rigoletto, Thi sỹ đường phố, Trà hoa nữ, Don Carlo, Aida, Khúc tưởng niệm, Otello, Falstaff,… sống mãi với thời gian, chủ yếu là nhờ những phát hiện đặc sắc như vừa kể. Ấy là những vui buồn, yêu ghét, hy vọng và thất vọng... nảy sinh không xiết từ muôn mặt đời sống xã hội. Cộng hưởng lớn lao của tinh thần dân tộc là lòng yêu nước, ý chí độc lập tự do sục sôi bấy giờ của nhân dân lao động, quý tộc và tinh hoa xã hội. Sự thật này được nhiều văn nghệ sỹ Italia thời ấy nhận ra và phản ánh chân thực, xúc động. Nhờ gần gũi người lao động bình thường, Verdi nổi trội hẳn lên một cách đáng kinh ngạc. Cho nên, không ngẫu nhiên, Verdi được tôn sùng là lãnh tụ tinh thần của Nhân dân Italia bấy giờ. Thậm chí, ông vẫn được ghi nhận là người phát ngôn hùng hồn bậc nhất cho khát vọng tự quyết của các dân tộc. Xin nhớ, Italia từng bị nhiều thế lực ngoại bang xâm chiếm và xâu xé từ tuối thế kỷ 14. Từ đầu thế kỷ 19, phong trào đấu tranh đòi độc lập và thống nhất đất nước bắt đầu rầm rộ. Đến năm 1861, về cơ bản, mục tiêu ấy đã đạt được. Hơn 10 năm sau, Italia mới có được lãnh thổ như bây giờ. Mãi năm 1946, nước cộng hòa Italia mới chính thức được thành lập.

Trở về với Verdi, đề tài nhạc kịch của ông khá đa dạng, chuyện xưa, chuyện nước ngoài… nhưng hồn cốt của tác phẩm lại rất thời sự. Đó đều là những khát vọng độc lập tự do nóng bỏng, bộc lộ qua những trạng thái tâm lý điển hình, không chỉ của nhân dân Italia thời ấy. Hiếm nghệ sỹ gặp nhiều may mắn như ông. Bấy giờ, nhà hát Scala ở Milano là một thánh đường âm nhạc, chỉ dành cho những tên tuổi đã và đang nổi như cồn. Nữ ca sỹ nhạc kịch Giuseppina Strepponi (1815-1897) cảm nhận ngay được tầm vóc của Verdi, khi ông mới trình làng hai vở, trong đó có một vở kém cỏi. Bà lớn tiếng yêu cầu Scala cho ông xuất hiện tức thì trên sân khấu của mình, vốn dành cho khán giả tinh hoa. Năm 1842, tại Scala, vở Nabucco của ông, mà Giuseppina Strepponi thủ vai nữ chính, thành công ngoài mong đợi. Nó được trình diễn 57 buổi liên tiếp, một kỷ lục thời đại. Quá say mê nhân vật và độ siêu thâm trầm nhân bản của Verdi, bà đã căng hết sức lực thế chất và tâm hồn của mình, nên giọng bị hỏng. Năm 1846, bà tới sống ở Paris, chuyển sang dạy hát. Năm 1847, Verdi tìm tới và hai người bén duyên đôi lứa. Năm 1849, bà về sống ở quê chồng. Năm 1859, hai người làm đám cưới. Bà luôn luôn sát cánh với Verdi, trong mọi sáng tác của ông. Đó là thảo luận với ông các ý tưởng, cốt truyện, chi tiết từng cảnh, sữa chữa, bổ sung, hát thử liên tục, để ông chỉnh sữa, đạt tới tầm mong đợi. Đi đâu, ông bà cũng như hình với bóng. Dưới con mắt của Lục địa già, họ là một mối tình huyền thoại không thể đẹp hơn được nữa…

2-1618224594.jpg
Verdi và các nghệ sỹ - Tượng đắp nổi

Quan niệm sống của Verdi quyết định việc ông xử lý đúng đắn các vấn đề sáng tác và đời thường. Chuyện tình vừa kể là một ví dụ. Năm 1848, ông mua một khu đất rộng, cách thị trấn quê ba cây số. Ở đó, ông xây nhà ở và làm việc cho mình, đồng thời mở một nông trại kiểu mới, mà ông đích thân điều hành hữu hiệu với hai trăm nông dân lao động trong trang trại. Ông tạo mọi điều kiện cho họ có cuộc sống dễ thở. Được ông coi như người thân, họ là nguồn vô tận các chiêm nghiệm lẽ đời. Tất cả nhạc kịch về sau của ông đều được viết trong không khí nông trại. Như Cholokhov có máy bay và sân bay riêng, Verdi cũng có xe ngựa sang riêng, đi về ở Italia và châu Âu, mau chóng và thuận tiện. Ông được dân bầu làm nghị sỹ, hoạt động xã hội phong phú và hiệu quả. Ông là tiếng lòng của những người cùng khổ, nhà thơ của thế giới bên lề xã hội. Cho nên, ông trở thành một nhân vật quan trọng của cả châu lục. Tác phẩm vĩnh viễn thời sự và được yêu thích, Verdi mãi mãi gắn bó với mọi người. Trung thành với Tổ quốc, và với các truyền thống dân tộc, ông luôn luôn yêu thương và trân trọng những người dân nghèo khổ. Năm 1898, ông khánh thành nhà dưỡng lão mà ông bỏ tiền túi xây dựng, dành cho người dân có tuổi không nơi nương tựa. Gần đồng thời với nhà ấy, từ 1885, ông cho xây dựng một biệt thự đặc biệt, theo thiết kế của một kiến trúc sư lừng lẫy đương thời ở quảng trường Michelangelo Buonarotti, thành phố Milano. Verdi muốn mời tới đó sống những năm tháng cuối đời những người hoạt động âm nhạc khó khăn chủ yếu về tài chính. Từ đầu, ông đã rất thận trọng khi đặt tên cho biệt thự. Ông không gọi nó là nhà tế bần, nhà tình thương, mà nhà an dưỡng. Viện an dưỡng chỉ nhận khách sau khi ông khuất núi, để tránh cho họ mặc cảm tủi lòng. Tiêu chí chọn khách là rõ ràng: Viện chỉ đón những người thực sự vì âm nhạc, kém may mắn hay chểnh mảng việc tiết kiệm từ thời còn trẻ.Nhập dẫn lời

3-1618224594.JPG
Biển đề Viện an dưỡng Verdi và tượng Nhà soạn nhạc Giuseppe Verdi

Viện an dưỡng Verdi có một hầm mộ rộng đẹp. Đây là nơi an nghỉ ngàn thu bên nhau của ông và bà Giuseppina Strepponi, mà buổi nhập mộ là một sự kiện lớn: 900 ca sỹ và nhạc công tấu bài đón rước thiêng liêng và oai hùng. Viện có nhiều phòng. Một phòng chung rộng rãi để biểu diễn. Vài phòng trưng bày những kỷ vật quý nhất của Verdi, đồ cổ, dương cầm,… tặng phẩm của các nhà vua, bạn hữu. Nhiều phòng luyện hát hay chơi một loại đàn. Thường mỗi khách được ở một phòng riêng. Luôn được một nhân viên y tế gần gũi chăm lo sức khỏe… Chỉ nhận khách mới, khi một khách cũ qua đời. Viện bắt đầu hoạt động từ năm 1902, sau khi Verdi rời cõi tạm năm 1901. Kinh phí là toàn bộ bản quyền nhạc kịch mà ông hiến tặng. Gần một trăm hai mươi năm qua, Viện là một địa chỉ văn hóa hàng đầu của Italia.

Không nợ nần, không bê bối, chỉ có âm nhạc, niềm vui sống và trân quý con người, Viện là biểu tượng của một tấm lòng bè bạn, một lời chúc chí nghĩa chí tình, rằng quý nhất cũa vũ trụ là con người, quý nhất của xã hội là nghệ sỹ, xin đừng làm tổn thương hoặc xâm hại sự thật ngàn đời ấy của nhân loại. Căn cốt của nghệ thuật là suy tôn Con người, suy tôn Nhân tình và Nhân tính. Năm đầu, Viện đón tiếp 5 nam và 4 nữ, nhạc sỹ già. Hiện nay, đang an dưỡng tại Viện 65 vị. Năm mươi người là ca sỹ, nhạc công, nhạc sỹ, tuổi hầu hết trên 70, có vị gần 100 tuổi. Mười lăm là sinh viên các nhạc viện Italia, trong đó có 1 Hàn Quốc, 1 Nhật Bản,… Mỗi khách đang ở Viện là một câu chuyện thần kỳ. Một cụ bà 95 tuổi, người Ru ma ni, hoạt động âm nhạc sôi nổi qua nhiều nước, từng sống ở Nga, ở Pháp, ở Mỹ. Cuối cùng cụ về đây, như trở lại ngôi làng thơ ấu. Một nhạc sỹ Pháp, từng sống 20 năm trên một chiếc tầu thủy, từng bôn ba bốn biển năm châu, giờ thấy Viện an dưỡng Verdi mới là nhà của mình. Các sinh viên đều học tập ở các Viện âm nhạc, nhưng được chọn ăn ở tại Viện, vì tình yêu âm nhạc đích thực, vì hoàn cảnh gia đình, vì tài năng tháo gỡ những mối bận tâm của người lớn tuổi… Cánh trẻ học tập được kinh nghiệm sống, sáng tác hay biểu diến của các bận lão trượng. Lớp ông bà được cánh trẻ truyền sức sống thanh xuân, giúp chúng lấy lại tinh thần, khi chúng gặp chuyện trớ trêu buồn nản. Viện Verdi quanh năm ngày tháng tràn ngập âm nhạc. Buổi sáng, cá nhân biểu diễn, nhóm nhỏ chia sẻ. Buổi chiều là biểu diễn tập thể cả viện. Như các cuộc trình diễn công cộng, ngất ngây và xúc động. Ở đó, âm nhạc là tất cả. Ở đó, cuộc đời là hòa hợp, du dương, thánh thiện. Ở đó, người ta thanh thản ra đi trong tiếng nhạc. Ở đó, hình bóng vợ chồng Verdi vĩ đại luôn ẩn hiện, với lời chúc rằng mọi sinh linh trên Cõi Thế hãy luôn luôn giao hòa bình đẳng, yêu thương, quý trọng nhau và quý trọng cộng đồng. Giao hòa không phải chỉ giữa các đồng nghiệp cùng trang lứa, mà cả giữa các thế hệ, giữa các vùng miền khác biệt –  ấy nét đẹp mới của Viện an dưỡng Verdi, “tác phẩm hay nhất” của Verdi, như chính ông từng thổ lộ…

Bạn đang đọc bài viết "Giuseppe Verdi – Bản nhạc hay nhất là tình người chuẩn mực" tại chuyên mục THẾ GIỚI. Mọi bài vở cộng tác xin gọi hotline (0969.989 247hoặc gửi về địa chỉ email (thoibaovhnt@gmail.com).  

Bạn đọc đặt Thời báo Văn học Nghệ thuật dài hạn vui lòng để lại thông tin